Chi tiết Tin tức - Sự kiện

Thứ năm, Ngày 17/11/2016 Facebook
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ THẢ VƯỜN
* BỆNH BẠCH LỴ Triệu chứng: Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 4 ngày. Gà lớn từ 3 - 6 ngày tuỳ theo sức đề kháng của cơ thể gà.

Gà con mắc bệnh lông xù mào yếm nhợt nhạt, phân trắng loãng dần đân bịt kín hậu môn. Gà con mắc bệnh tỷ lệ chết cao. Gà trưởng thành mắc bệnh thường ở thể mãn tính mức đẻ giảm hoặc đẻ non.

Trứng nhiễm bệnh đem ấp thường chết sau 15 ngày, hoặc phôi bị sát. Gà con nở ra yếu và xuất hiện bệnh phân trắng ngay sau khi mới nở từ 1 - 2 ngày.

1-      Phòng bệnh :

Gà con mới nhập về cần nhốt riêng để theo dõi, thường xuyên vệ sinh sạch sẽ chuồng trại , máng ăn, máng uống, chất độn chuồng, tẩy uế chuồng trại, vệ sinh máy ấp và buồng máy ấp trứng.

Cho uống kháng sinh kết hợp với VTM để phòng bệnh.

2-      Điều trị: nếu gà mắc bệnh cho uống một trong các loại thuốc sau:

Tcolivit gói 10g: 1 - 2g pha 1 lít nước sạch cho gà uống, cho uống liên tục 5 - 7 ngày.

Gentatylo gói 10g : trộn vào thức ăn cho 35 - 50 kg gà, cho ăn liên tục 5 - 7 ngày. Kết hợp với bột điện giải, B.comlex.

* BỆNH ĐẬU GÀ

1-      Nguyên nhân:

Bệnh đậu gà là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vorut đậu thích nghi trên gà gây ra. Đặc trưng của mụn đậu  là ở trên da, chủ yếu là ở quanh miệng, mắt, mào và màng giả ở niêm mạc miệng. Virut đậu có sức đề kháng cao với điều kiện lý, hoá thông thường, những nơi sảy rea mầm bệnh tồn tại lâu trong nhiều tháng, là nguồn bệnh nguy hiểm lây nhiễm cho các lứa tuổi gà tiếp theo.

2-      Truyền nhiễm:

            Bệnh gây cho gà ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh cao từ 1 - 3 tháng tuổi. Bệnh lây truyền trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ hoặc gián tiếp từ thức ăn, nước uống, dụng cụ, chuồng nuôi bị nhiễm virut. Ngoài ra virut đậu còn có nhiều ở trong máu gà, hoặc gà đã khỏi bệnh nên những côn trùng hút máu (mòng, ve, rận) cũng có khả năng truyền bệnh.

3-      Triệu chứng:

      Thời gian nung bệnh từ 4 - 8 ngày, mụn đậu thường mọc ở vùng da đầu, như khoé miệng, khoé mắt, mào, tích, một số trường hợp mụn đậu mọc ở da chân, hậu môn, bên trong miệng (ở niêm mạc yết hầu).

     Nốt đậu mới mọc có màu szms hoặc màu đỏ sám, to dần bằng hạt đậu. Nốt đậu ở khoé mắt làm cho gà khó nhìn, gây viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt. Nốt đậu ở khoé miệng làm con vật đau đớn khi mổ thức ăn, hoặc nốt đậu bịt kín lỗ mũi làm con vật khó thở.

   Gà con: trên niêm mạc miệng, hầu, họng xuất hiện lớp màng giả màu vàng xám, gà con ủ rũ kém ăn, từ miệng chảy ra chất dịch nhớt có mủ lẫn màng giả. Bệnh tiến triển trong 3 - 4 tuần, gà con mắc bệnh nặng hơn gà lớn, tỷ lệ chết của bệnh đậu từ 10 - 50 %. Gà lớn tỷ lệ chết thấp, gà mái tỷ lệ đẻ giảm.

4-      Phòng bệnh:

- Vệ sinh thú y:

+ Định kỳ tẩy uế chuồng trại.

     + Cách ly con mắc bệnh để điều trị, số còn lại chủng vắc cin để gây miẽndịch chủ động.

     + Những nơi đã một lần gà bị bệnh đậu, sau đó hàng năm lại tái phát, vì vậy cần chủng vắc cin đậu đều đặn.

- Phòng bệnh bằng vắc cin: chủng đậu cho gà lúc 7 - 10 ngày tuổi, với gà sinh sản chủng lại lần hai lúc 12 - 14 tuần tuổi.

5-      Điều trị:

            Không có thuốc kháng sinh điều trị đặc hiệu, khi bệnh sảy ra trên những đàn gà có số lượng ít thì điều trị triệu chứng để giảm bớt thiệt hại.

   Bôi mụn đậu bằng Xanh Metylen, hoặc cồn I ốt 1 - 5 %.

             Cho uống thuốc trợ sức để tăng sức đề kháng cho cơ thể: Bột điện giải B com lex: gói 100g dùng cho 300 - 500 kg thể trọng. VTM C 5%: 0,3 - 0,5 ml/ con.

* BỆNH NẤM PHỔI

1 - Nguyên nhân:

            Bệnh nấm phổi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của gia cầm non, tỷ lệ chết cao.

            Bệnh nấm phổi có ở nhiều nơi trên thế giới, đặc trưng của bệnh là hình thành những hạt nấm ở phổi và thành các túi hơi.

             Bào tử nấm phổi có sức đề kháng cao với nhiệt độ và các chất hoá học, do vậy bào tử nấm tồn tại lâu dài trong tự nhiên và gây bệnh quanh năm cho gia cầm.

2- Truyền nhiễm:

             Trong tự nhiên tất cả các loại gia cầm đều mắc bệnh, gia cầm non thường mắc bệnh và tỷ lệ chết cao hơn gia cầm trưởng thành.

Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, bào tử nấm phổi phát tán qua đường không khí, gia cầm khoẻ hít phải sẽ mắc bệnh. Nuôi gà mật độ cao khả năng khả năng nhiễm bệnh sẽ cao hơn.

Nguồn lây lan bệng là gà nhiễm nấm phổi, gà mái đẻ mắc bệnh ở thể mãn tính có thể truyền bào tử nấm sang trứng. Trứng nhiễm bào tử nấm gây ô nhiễm trong máy ấp, máy nở. Gà con một ngày tuổi bịi nhiễm bệnh thường do hít phải bào tử nấm phát tán trong không khí máy ấp. Ngoài ra thức ăn, đệm lót bịi ẩm ướt, nhiễm bào tử nấm cúng là nguồn lây lan bệnh nguy hiểm.

3-Triệu chứng:

            Sau khi vào cơ thể qua niêm mạc đường hô hấp hoặc tiêu hoá, bào tử nấm theo máu di chuyển tới các cơ quan ký sinh, nảy mấm thành sợi nấm, sinh sản nhanh chóng tạo ra các hạt nấm nhỏ màu trắng sán ở phổi thành túi hơi....

            Thời gian nung bệnh từ 6 - 10 ngày tuỳ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể và độc tố của nấm.

            + Thể cấp tính: Thường ở gà con từ 1 - 3 tuần tuổi, tỷ lệ chết cao đến 80%. Gà con mắc bệnh thường mệt mỏi kém ăn, mắt lim dim, đứng tách đàn. dần dần con vật khó thở nên vươn cổ, há mốm để thở, nhịp thở nhanh, nhiều con hắt hơi. Từ mồm mũi chảy ra chất nhờn, có thể bị viêm mắt, viêm xoang do bào tử nấm lan tràn từ phổi sang. Gà kiệt sức dần co giật rồi chết.

            + Thể mãn tính: xảy ra chủ yếu ở gà trưởng thành, có triệu chứng nhẹ và tỷ lệ chết thấp. Gà mắc bệnh thường có hiện tượng khó thở kéo dài, gầy sút nhanh, mào yếm nhợt nhạt. Chết do kiệt sức.

4 - Bệnh tích: mổ khám gà bệnh thấy các hạt nấm to nhỏ màu vàng, trắng, xanh ở phổi.

            - Thể cấp tính: có nhiều dịch nhớt, niêm mạc bị xung hyuết.

            - Thể mãn tính: hạt nấm còn mọc ở gan, lách, nội tâm mạc và phúc mạc.

5- Phòng bệnh:

- Vệ sinh chuồng trại thường xuyên, đệm lót chuồng, thức ăn, nước uống ... Tránh ẩm ướt để nấm không phát triển và gây ô nhiễm.

             - Không sử trứng gà bệnh để ấp nở, tẩy diệt bào tử nấm trong máy ấp thường xuyên bắng các thuốc sát trùng như fooc mol.

6 - Điều trị: chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, khi mới phát hiện bệnh cần chăm sóc nuôi dưỡng, bổ xung đầy đủ vào thức ăn lượng VTM A, VTM C và B com lex ...

* BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG

1- Truyền nhiễm:

Bệnh tụ huyết trùng gà cữảy ra chủ yếu ở vụ hè thu, gia cầm bị cảm lạnh hoặc bị cảm nóng, do thời tiết thay đổi đột ngột. Gây chết nhiều gia cầm chăn nuôi ở gia đình.

            Bệnh lây lan trực tiếp từ gà bệnh với gà khoẻ qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi ... bị nhiễm vi trùng .

Các loại gia cầm đều cảm thụ bệnh, thường bị bệnh nặng và tỷ lệ chết cao. Bệnh từ gia cầm có thể lây sang các loại gia súc khác.

Vi trùng thường ký sinh ở đường hô hấp, khi sức để kháng của cơ thể gia cầm bị giảm sút, vi trùng vào máu và gây bệnh. Tuỳ theo sức khoẻ của gia cầm và đọc lực của vi trùng mạnh hay yếu, mà thời gian nung bệnh dài hay ngắn sẽ gây chết hoặc thể hiện triệu chứng.

2- Triệu chứng:

            Thời gian nung bệnh ngắn từ 2 - 4 ngày, bệnh tụ huyết trùng gây chết rất nhanh, gà bệnh chết chưa thể hiện rõ triệu chứng, nên gọi là bệnh toi gà. Bệnh có ở 3 thể:

- Thể cấp tính: Gà ủ rũ trong 1 - 2 giờ rồi lăn ra chết. Nhiều trường hợp mái đang nhảy ổ đẻ, gà đang kiếm mồi giãy giụa rồi lăn ra chết. Do vi trùng vào máu gây nhiễm trùng huyết làm gà chết nhanh.

            - Thể cấp tính: là bệnh khá phổ biến, gà ủ rũ bỏ ăn đi lại chậm chạp, phân lẫn máu. Mào, tích tím bầm, khó thở chầm trọng và chết do kiệt sức.

             - Thể mãn tính: Thường thấy ở cuối ổ dịch, gà kém ăn mào yếm nhợt nhạt, phân lỏng lẫn chất nhầy màu vàng, trắng hoặc lẫn máu. Đi lại khó khăn do xưng khớp chân.

3 - Bệnh tích:

            - Thể quá cấp tính thường không điển hình.

             - Thể cấp tính: khi mổ khám gà bệnh thấy trong xoang ngực, xoang bụng chứa nhiều nước lẫn máu, xuất huyết ở tổ chức dưới da. Tim xưng bao tim chứa nhiều dịch màu nâu xẫm hoặc màu vàng nhạt, gan xưng trên bề mặt gan có nốt hoại tử màu trắng nhỏ bằng đầu đinh ghim.

             - Thể mãn tính: ống dẫn trứng xưng màu vàng nhạt, các khớp chân xưng to.

4 - Phòng bệnh:

             - Vệ sinh thú y: thường xuyên tẩy uế chuồng trại, máng ăn, máng uống.

             - Tiêm phòng vắc cin cho gà lúc 35 ngày tuổi. Sau 5 - 6 tháng tiêm nhắc lại lần hai.

            - Dùng kháng sinh để phòng bệnh . Như Tiamulin hoặc Ampi-septol trộn vào thức ăn hoặc hoà vào nước cho uống. Sử dụng 3 ngày liền trong một tháng.

5 -  Điều trị:

            Kanatialin tiêm bắp: liều 1ml/ 3 - 5 kg thể trọng.

             Tiamulin: trộn vào thức ăn. Liều: 1 gói 20g trộn với 15 - 20 kg thức ăn.

            Kết hợp với cho uống VTM C, B comlex.

* BỆNH NIU CÁT XƠN

1 - Nguyên nhân: Là bệnh truyền nhiễm cấp tính của gà ở mọi lứa tuổi. Bệnh xảy ra nhiều dạnh khác nhau. Vi rút cường độc tự nhiên gây bệnh nặng và tỷ lệ chết cao. Vi rút có độc lực vừa gây bệnh nhẹ cho gà là chủ yếu thường gặp ở gà trên 6 tháng tuổi. Độc lực thấp không có khả năng gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ cho gà mới nở.

2 - Truyền nhiễm: Bệnh niu cát xơn rất dễ lây qua đường hô hấp, tiếp xúc giữa gà bệnh và gà khoẻ. Gà bài tiết vi rút qua phân, nước mắt, mước mũi. Ngoài ra bệnh lây truyền thức ăn nước uống bị nhiễm vi rút do dụng cụ, thiết bị chăn nuôi, con ngườu và phương tiện vận chuyển. Các gia đình nuôi gà bệnh lây lan chủ yếu do giết mổ gà bệnh không cách ly. Việc bán chạy gà ốm, mua gà bệnh ở chợ về ăn càng làm cho bệnh lây lan nhanh chóng từ nơi này sang nơi khác.

3. Triệu chứng:

Thời gian ủ bệnh từ 3 - 6 ngày tuỳ theo động lực của các chủng bệnh có thể tiến triển nhanh hoặc chậm.

Thể quá cấp tính: Trong đàn gà xuất hiện một số con ủ rũ lờ đờ chết nhanh trong vòng 2 -3 giờ. Đôi khi không thể hiện rõ triệu chứng cvủa bệnh và chết đột ngột. Sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên là gà khó thở chầm trọng có dịch nhầy trong mũi chảy ra gà bị bệnh hắt hơi kêu toắc toắc nhiều khi há mồm thở, vươn cổ lên để thở, mào tím tái. Tỷ lệ chết cao. Nếu bệnh kéo dài thể hiện triệu chứng thần kinh như đi siêu vẹo nghẹo đầu mổ không trúng thức ăn.

Thể cấp tính: Đây là bệnh phổ biến có  đặc điểm lây lan nhanh mạnh, gà bệnh chết kéo dài dai dẳng, gà ốm lù đù kém ăn, lông xù như khoác áo tơi. Gà uống nhiều nước, thức ăn ở diều không tiêu, gà khó thở, phân lỏng màu trăng xanh hoặc lẫn bọt.

Thể mãn tính: Thường thấy ở cuối ổ dịch. Rối loạn thần kinh, gà chậm chạm lù đù ăn kém phân loảng tráng xám, rối loạn thần kinh.

4. Bệnh Tích: Xoang miệng của gà chết chứa nhiều dịch nhớt màu đục. Niêm mạc khí quản xuất huyết. Dạ dày tuyến nơi tiếp giáp với ruột non có điểm xuất huyến rõ rệt. Niêm mạc ruột già, ruột non, trực tràng, hậu môn tụ máu xuất huyết từng mảng.

5. Phòng bệnh:

Vệ sinh thu y: Ngăn chặn không cho bệnh lây lan đến vùng an toàn dịch, hoặc tiêu diệt căn bệnh làm giảm bớt thiệt hại kinh tế. các Trại gà và gia đình thường xuyên làm vệ sinh tẩy uế truồng tại không bán chạy Gà ốm, không mua gà bệnh về ăn, gà bệnh phải giết thịt nơi cách ly.

+ Phòng bệnh bằng Vacxin.

Lần 1: nhở Vacxin Laxota vào mắt mũi miệng lúc 3 ngày tuổi.

Lần 2 : Cho uống vacxin Laxota lúc 12 ngày tuổi.

Trước khi cho gà uống thuốc thì cho gà nhịn uống nước.

Lần 3: Tiêm vacxin Niucatxon cho gà lúc 40 ngày tuổi. Tiêm lặp lại lần 2 sau 5 đến 6 tháng.

6. Điều trị:

Chưa có thuốc kháng sinh điều trị đặc hiệu. Nếu gà mắc bệnh chỉ dùng 1 số thuốc sinh tố để tăng cường sức đề kháng: Cho uống bột điện giải B Complex, Vitamin C, Vitamin B1. 

Bệnh hô hấp man tính

- Nguyên nhân: Bệnh hô hấp mãn tính thường chỉ là bệnh kế phát triệu chứng khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, do các bệnh viêm phổi, viêm phế quản truyền nhiễm, bệnh đậu, bệnh Niucatxon ở thể nhẹ, hoặc các bệnh do nhiễm khuẩn, ký sinh trùng.

- Ngoài ra trong các yếu tố phụ như dinh dưỡng kém, vận chuyển gà, chuồng trại không thích hợp: trật trội, lạnh ẩm ướt, thông gió kém cũng làn giảm sức đề kháng và làm cho gà rễ mắc bệnh.

- Truyền nhiễm: Nguồn lây bệnh chủ yếu là gà bệnh. Virut có nhiều trong nước mắt, mũi, miệng, nhiễm vào không khí gà lành hít phải rễ mắc bệnh. Ngoài ra gà mái rễ nhiễm bệnh, virut có khả năng truyền qua trứng, gà con nở ra từ trứng bệnh sẽ phát bệnh và lây lan. Bệnh có thể lây qua thức ăn, nước uống.

Triệu chứng:

Thời gian ủ bệnh từ 4 - 20 ngày, trung bình là 7 ngày. Gà bệnh chảy nước mắt, nước mũi, ho, khó thở. Do ngạt mũi gà phải há mồm ra để thở. Các xoang dưới mắt bị viêm, xưng làm mặt bị biến dạng.

Gà mái đẻ mắc bệnh, giảm tỷ lệ đẻ. Trứng tỷ lệ chết phôi trước khi nở cao. Bệnh thường tiến triển ở thể mãn tính( đối với gà lớn) và ít, làm gà chết, gà con mắc bệnh tỷ lệ chết cao. Nhìn chung tổn thất về kinh tế là nhiều, gà chậm lớn tiêu tốn nhiều thức ăn gà mái tỷ lệ đẻ giảm.

- Bệnh tích: Xác chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu. Khí quản hơi đỏ. Niêm mạc mũi và các xoang cạnh mũi xưng phù chứa đầy dịch nhót màu vàng. Phổi phù thũng.

- Phòng bệnh:

+ Vệ sinh thú y: Cần giữ tốt sức đề kháng cho gà, đảm bảo mật độ chuồng nuôi, tránh ẩm ướt, vệ sinh thú y chuồng trại, cách ly con ốm, giữ vệ sinh thức ăn, nước uống.

+ Cho uống thuốc để phòng bệnh:

Tylosin: Pha 0,5gr cho 1 lít nước cho uống. Cứ 10 ngày cho uống 3 ngày.

- điều trị: Có thể cho uống một trong các loại thuốc sau:

Tiamuli: Pha 1ml/ 1 lít nước cho uống.

Genta - cosmic: 1 gói 10gr/ 30 kg thể trọng,

kết hợp với các thuốc tăng sức đề kháng của cơ thể:

B. Complex: Pha 1gr/ 3lít nước cho uống.

VTMC: 0,3 - 0,5 ml/ con.

Bệnh Giun đũa

- Nguyên nhân:

Bệnh giun đũa là một bẹnh khá phổ biến ở nước ta, tỷ lệ gà nhiễm bệnh cao. Giun đũa trưởng thành ký sinh ở ruột non của gà.

- Truyền nhiễm:

Bệnh lây truyền chủ yếu qua nuôi nhốt chung gà bệnh với gà khoẻ, nên chuồng, vườn thả có chứng giun đũa cảm nhiễm, trứng giun lần vào thức ăn, nước uống.....

Giun đũa ký sinh trong ruột non của gà, giun cái đẻ nhiều trứng và theo phân ra ngoài.

Trứng có ấu trùng nhiễm vào thức ăn, nước uống vào cơ thể gà qua đường tiêu hoá, nở thành ấu trùng phát triển trong các tuyến ruột, sau 30 - 50 ngày phát triển thành giun đũa trưởng thành ký sinh trỏnguột non.

- Triệu trứng:

-Gà nhiễm giun đũa gầy yếu còi cọc, chậm lớn, mào nhợt nhạt do thiếu dinh dưỡng. Nếu bị nặng gà có thể chết do tắc ống mật, tắc ruột.

Ngoài ra giun đũa ký sinh ở ruột non của gà còn làm tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho vi sinh vật thâm nhậpvà gây bệnh đường tiêu hoá.

- Bệnh tích:

Gà bệnh gầy xác xơ, lông xù, mào nhợt nhạt. Mổ khám thấy niêm mạc ruột bị viêm, sưng, tụ huyết.

- Phòng bệnh:

Vệ sinh thú y: Định kỳ dọn phân, đệm lót, tiêu đọc nền chuồng, ủ phân để diệt chứng giun.

Giữ thức ăn, nước uống không bị mầm bệnh.

Cách ly gà bệnh, nuôi riêng gà lớn và gà con để tránh nhiễm trứng giun đũa.

Định kỳ tẩy giun đũa cho gà.

- Điều trị: Có thể dùng một trong các loại thuốc sau:

Phenothiazin: Gà con: 1000 mg/ 1kg thể trọng.

Gà lớn: 2000 mg/ 1 kg thể trọng.

Levamisol: tiêm bắp: 1 ml/ 10 kg thể trọng.
Tác giả: (Thông tin từ )

Bình luận

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

KỸ THUẬT HỆ THỐNG
ĐT: 0208.3753 725


khiemtic@gmail.com
Nguyễn Hùng Khiêm

LIÊN KẾT WEBSITE

Lượt truy cập
Lixao  Online: 69  
Lixao  Tuần: 5047
Lixao Lixao  Tổng: 123558655